Lịch sử phát triển ngành đồng hồ ( phần 3 )

Lịch sử phát triển ngành đồng hồ

Lịch sử phát triển ngành đồng hồ ( phần 3 )

3. Đồng hồ cát và nến chỉ giờ

 Đồng hồ cát (sablier) được dùng trong khoảng thời gian ngắn và có xuất xứ từ Ai Cập. Nó gồm một bình cát nhỏ, thắt bụng thật hẹp, cát ở phần trên chảy xuống phần dưới cho đến hết, lúc này người ta đổi đầu đồng hồ. Thời gian cát chảy từ phần trên xuống phần dưới đều bằng nhau. Có rất nhiều loại đồng hồ cát: loại chảy trong thời gian một giờ, nửa giờ, hoặc những khoảng thời gian ngắn hơn. Loại đồng hồ này được Hải quân Anh dùng mãi cho tới năm 1893.

Lịch sử phát triển ngành đồng hồ

Đồng hồ nến chỉ giờ ( chandelle horaire) được dùng trong thời Trung Cổ. Loại nến chỉ giờ này căn cứ vào nguyên tắc thời gian trôi qua tỉ lệ với số nến cháy.

4. Đồng hồ dùng lò xo

Người đầu tiên làm ra đồng hồ có máy móc là tu sĩ Gerbert, một nhà thiên văn. Ông phát minh ra “con buông” (escapement) vào năm 996. Ban đầu, nó rất phức tạp, cồng kềnh, được lắp một quả chuông và cũng là âm thanh nhắc nhở các tu sĩ tới giờ cầu nguyện, từ đó mới có danh từ “clocca” trong tiếng La Tinh và “clock” trong tiếng Anh. Vào năm 1288, ở Anh một chiếc đồng hồ được lắp trên tháp của tòa kiến trúc Westminster Hall, đánh từng hồi chuông và nhiều lần trong một ngày.

Chiếc đồng hồ thiên văn đầu tiên được tu viện trưởng Richard Wellington chế tạo cho nhà thờ Saint Albans trong khoảng từ 1326 – 1344. Một chiếc đồng hồ khác được Henry De Vick nước Đức làm cho lâu đài hoàng gia Pháp, chiếc đồng hồ này có 1 kim chỉ giờ và dùng quả nặng 227 kg rơi từ trên cao 9.8 mét (32 feet).

Để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và cùng với trình độ thủ công ngày càng phát triển, người ta chế tạo đồng hồ đeo được. Chiếc đồng hồ đeo cổ đầu tiên được Peter Henlein làm tại Nuremberg – Đức. Henlein dùng một thứ lò xo làm động lực chuyển vận. Chiếc đồng hồ này có hình dạng giống một quả trứng, rất đắt tiền, có chuyện kể rằng Hầu tước De Laborde đã phải mua một chiếc với giá 26 đồng vàng năm 1377.

Nửa sau thế kỷ 14, đồng hồ trở thành một thứ trang sức đắt tiền và thường được dùng một sợi dây chuyền vàng để đeo trước ngực. Từ thế kỷ 16, các nhà làm đồng hồ Châu Âu đã cố gắng để chế tạo những loại đồng hồ cỡ nhỏ, kiểu dáng đẹp, nạm kim cương và làm bằng những thứ kim loại quý.

Thế kỷ 17 – 18 , một loạt các phát minh khoa học đã làm gia tăng độ chính xác của đồng hồ và làm giảm đi khối nặng trong bộ máy đồng hồ. Trong năm 1675, Christian Huyghens – nhà vật lý kiêm thiên văn người Hà Lan đã cho phổ biến phát minh về lò xo trôn ốc, hứa hẹn cho các nhà khoa học một dụng cụ có thể đo lường một cách chính xác các quãng ngăn như thời gian tính bằng giây

Năm 1676, đã có một sự cải tiến khác, nhà vật lý người Anh – Robert Hooke đã nghĩ ra thứ con buông có móc (the anchor escapement). Tuy nhiên bộ phận mới này làm ảnh hưởng tới sự chính xác của đồng hồ. Để khắc phục, tới năm 1715, George Graham đã tìm ra một loại con buông “thoát” (the “deadbeat” escapement). Nhờ các sửa đổi thích hợp, đồng hồ quả lắc trở nên một dụng cụ chính xác vào năm 1800.
Lịch sử phát triển ngành đồng hồ

Các đồng hồ lò xo lúc đầu còn mang nhiều khuyết điểm: lò xo yếu dần khi nở ra và con lắc bên trong chuyển vận không đều khi đồng hồ bị đặt nghiêng, làm cho đồng hồ có thể chỉ sai từ nửa giờ tới hai giờ.

Ở đất liền, đồng hồ quả lắc của Huyghens tuy chuyển vận hoàn hảo khi treo tường nhưng lại không thích hợp với sự lắc lư của con tàu, làm các nhà hàng hải rất bận tâm. Do không xác định được kinh độ nên hàng ngàn con tàu và người , hàng hóa bị lạc đường. Các nhà hàng hải đã rất hy vọng vào thứ dụng cụ đo thời gian mà từ đó có thể suy ra kinh độ tại một nơi nào đó.

Trong thế kỷ 17, đồng hồ đã có kim chỉ phút và kim chỉ giây. Qua thế kể 18, chân kính được dùng để làm giảm độ ma sát và tăng độ bền của đồng hồ. Năm 1544, xuất hiện nghiệp đoàn thợ đồng hồ của thành phố Paris – The Paris Guild of Clockmakers. Tới năm 1630 The Clockmakers Company được thành lập tại London và tồn tại cho tới ngày nay. Các nước Hà Lan, Đức, Thụy Sỹ cũng là nơi danh tiếng sản xuất các loại đồng hồ đẹp, và hoàn hảo về cơ ký.

Đồng hồ đeo tay ra đời và ngày nay chúng ta cũng không biết từ bao giờ và ai nghĩ ra sáng kiến đó,  đã có rất nhiều giả thiết xung quanh sáng kiến này. Đồng hồ đeo tay không gây được sự chú ý cho tới năm 1806 Hoàng hậu Joséphine de Beauharnais đã tặng cho con dâu là công chúa xứ Bavière hai cái vòng nạm ngọc trai và ngọc bích, trên một trong hai chiếc vòng có gắn một chiếc đồng hồ rất nhỏ. Hai món kỷ vật đặc biệt này đều do nhà kim hoàn Nitot tại Paris thực hiện.

1880 Bộ Hải quân Đức nhận ra đồng hồ đeo tay là vật hữu ích cho các sĩ quan và được đặt hàng loạt với chất liệu vàng tây, mặt to, kim to và dây đeo bằng kim loại. Sau đó, các nhà sản xuất mới nghĩ tới việc tung ra thị trường loại đồng hồ đeo tay nhưng không được chào đón lắm.

Mercedes Gleitze đã bơi qua biển Manche với một chiếc đồng hồ đeo tay. Mọi người những tưởng nó sẽ hỏng vì ngấm nước. Sau sự kiện này, người dân anh bỗng chú ý hơn đến đồng hồ đeo tay, họ thích thú và mua chúng để sử dụng khi chơi các môn thể thao: chơi dã cầu, đua ngựa, câu cá. Lớp người đeo tay ngày càng nhiều và đến năm 1937, đồng hồ đeo tay đạt mức thành công kỷ lục. Kỹ thuật chế tạo đồng hồ đeo tay ngày càng phát triển, tinh vi hơn, từ loại không bị ngấm nước tới loại không bị ảnh hưởng của từ tính, của sự va chạm và cũng có loại đồng hồ lên dây tự động.

Xem Thêm ==> Đồng hồ Cơ hoạt động như thế nào.

Tại Hoa Kỳ, chiếc đồng hồ loại lớn đầu tiên được chế tạo cho thành phố New York vào năm 1716. Năm 1753, một chiếc khác được gắn bên trong The Independence Hall của thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania. Sau cuộc cách mạng Hoa Kỳ ( 1775/1783) đồng hồ được sản xuất khá nhiều./

Xem lại Phần 2

Xem tiếp Phần 4